Một số nguyên nhân gây ra Hoại tử chỏm xương đùi

Thảo luận trong 'Kiến Thức Y Học' bắt đầu bởi Support, 20/5/17.

Lượt xem: 390

  1. Liên quan : Điều trị Hoại tử chỏm xương đùi - hoại tử xương - hoại tử khớp gối

    Hoại tử chỏm xương đùi (HTCXĐ) là do gián đoạn của lưu lượng máu đến chỏm xương đùi, dẫn đến hoại tử mạch máu (AVN) tại chỏm xương đùi. Hoại tử bắt đầu hình thành các vùng thưa xương, ổ khuyết trên xương, nặng hơn là gãy xương dưới sụn, cuối cùng là gây xẹp chỏm xương đùi dẫn đến mất chức năng khớp háng và tàn phế.

    [​IMG]

    Về nguyên nhân gây ra HTCXĐ thì ngoài những nguyên nhân được tìm thấy qua 1 thời gian dài quan sát thì vẫn có những trường hợp không rõ nguyên nhân cụ thể. Sau đây sẽ tóm tắt một vài nguyên nhân phổ biến gây bệnh HTCXĐ
    Bạn đang xem tại thuocbackimtuan.com

    Chấn thương khớp hoặc xương

    Một vết thương, chẳng hạn như bị trật khớp, có thể làm hỏng các mạch máu gần đó. Điều trị ung thư liên quan đến phóng xạ cũng có thể làm yếu xương và làm hại mạch máu.

    Sử dụng steroid
    Sử dụng lâu dài steroid đã được chứng minh là một trong những nguyên nhân chính của HTCXĐ. Ngoài ra, nó không chỉ gây ảnh hưởng 2 bên hông mà còn cả hai đầu gối hoặc trong nhiều khớp thông qua cơ thể. Người ta cho rằng AVN từ sử dụng Steroid chiếm hơn 50% trong tất cả các ca bệnh được ghi lại. Yếu tố nguy cơ phổ biến nhất là sử dụng các thuốc steroid dạng uống hoặc thuốc steroid dạng IV ( Corticosteroid như prednisolone). Những loại thuốc này thường được sử dụng cho bệnh nhân hen, viêm khớp, bệnh Crohn, dị ứng nghiêm trọng, chấn thương tủy sống và nhiều rối loạn khác.


    Sử dụng rượu
    Một yếu tố nguy cơ rất phổ biến là sử dụng quá nhiều rượu. Mức tiêu thụ rượu càng lớn thì nguy cơ phát triển AVN càng cao. Cơ chế chính xác của việc rượu (hoặc steroid) gây ra AVN không hoàn toàn được hiểu, nhưng người ta tin rằng chất béo (lipids) quá mức được sản xuất và tích tụ trong các mạch máu rất nhỏ của xương. Sự tắc nghẽn xảy ra sau đó làm giảm lưu lượng máu đến đầu đùi gây ra hoại tử của xương.

    Bệnh hồng cầu lưỡi liềm
    Một số bệnh trạng, chẳng hạn như thiếu máu hồng cầu lưỡi liềm hoặc bệnh Gaucher , có thể làm tăng áp lực trong xương - khiến máu tươi trở nên khó khăn hơn, tăng nguy cơ nguy cơ hoại tử. Thông thường, hồng cầu của bạn rất linh hoạt và tròn, di chuyển dễ dàng qua các mạch máu của bạn. Trong thiếu máu tế bào hình liềm, các tế bào hồng cầu trở nên cứng và dính và có hình dạng lưỡi liềm hoặc mặt trăng lưỡi liềm. Những tế bào có hình dạng bất thường này có thể bị mắc kẹt trong các mạch máu nhỏ, có thể làm chậm hoặc chặn dòng máu và oxy đến các bộ phận của cơ thể.

    Bệnh Gaucher
    Ngoài lí do liên quan đến rối loạn máu, Bệnh Gaucher còn gây ra loãng xương, làm tăng nguy cơ gãy xương, nguy hiểm hơn là cản trở việc cung cấp máu cho xương, khiến xương bị hoại tử.Bệnh Gauchers xảy ra khi một số chất béo có hại tích tụ trong gan, lá lách, phổi, tủy xương, và ít phổ biến hơn là não. Sự tích tụ chất béo trong các mô này cản trở cơ thể hoạt động như thế nào và có thể gây ra gan và lá lách phình to và đau xương.

    Sử dụng Lamotrigine
    Lamotrigine là một loại thuốc được sử dụng cho điều trị chứng động kinh và rối loạn hai cực, thuốc được biết đến như là Lamictal và đã chứng minh trong một số trường hợp là nguyên nhân gây hoại tử mô mạch.

    Liệu pháp bức xạ
    Hóa trị steroid có thể góp phần làm giảm lưu lượng máu đến vùng có liên quan dẫn đến sự khởi phát hoại tử không mạch máu, tuy nhiên nó phụ thuộc vào liều lượng và thời gian.

    Bởi vì bức xạ hoạt động để tiêu diệt các tế bào ung thư thông qua việc tẩy uế oxy và các chất dinh dưỡng quan trọng, nó chắc chắn sẽ tiêu diệt các tế bào bình thường, làm hỏng các động mạch nhỏ và làm giảm lưu thông. Không phải là một nhiễm trùng chính nó, đó là khả năng giảm đau của xương và các tổn thương, đau đớn và sự mong manh. Cung cấp máu không đủ cho các vùng chiếu xạ làm giảm khả năng hồi phục và có thể dẫn đến hoại tử mô mạch.
    Bạn đang xem tại thuocbackimtuan.com

    AVN do điều trị ung thư
    Hoại tử mạch máu có thể là một tác dụng phụ của điều trị đối với một số loại ung thư khác nhau.

    Các yếu tố nguy cơ chính để phát triển AVN như là kết quả của điều trị ung thư bao gồm điều trị bằng:

    • Corticosteroid như dexamethasone hoặc prednisolone (đây vẫn là nguyên nhân hàng đầu của hoại tử mô mạch)
    • Bisphosphonates
    • Một số loại hoá trị liệu
    • Phẫu thuật tia xạ trị cho khớp nặng và toàn thân bức xạ
    • Cấy ghép tủy xương hoặc tế bào gốc.
    • Bệnh nhân đang điều trị bệnh bạch cầu cấp tính, ung thư bạch huyết lymphoblastic cấp, u lympho, ung thư tinh hoàn, ung thư buồng trứng, ung thư vú và đa u tuýp có tăng nguy cơ phát triển AVN bất kể cách điều trị họ nhận
    Cần nhớ rằng mặc dù hoại tử mô mạch có thể là một tác dụng phụ không mong muốn trong điều trị ung thư, nhưng điều rất quan trọng là đừng ngừng thuốc hoặc giảm liều nếu không có sự hướng dẫn của bác sĩ trực tiếp điều trị vì các loại thuốc có thể rất hiệu quả tại Điều trị ung thư.

    Bệnh giải nén (DCI) ở thợ lặn
    Bệnh giải nén, hay DCI, là thuật ngữ dùng để mô tả bệnh tật do giảm áp lực xung quanh cơ thể. Một ví dụ điển hình là những gì xảy ra với cơ thể bạn khi bạn đang lướt sóng sau khi lặn.

    DCI bao gồm hai bệnh, bệnh suy giảm huyết áp (DCS) và tắc mạch động mạch (AGE). DCS được cho là kết quả của các bong bóng phát triển trong mô và gây ra thiệt hại tại chỗ, trong khi AGE kết quả từ bong bóng đi vào tuần hoàn phổi, đi qua các động mạch và gây tổn thương mô ở một khoảng cách bằng cách ngăn lưu lượng máu ở mức độ mạch máu nhỏ.

    Lupus - lupus ban đỏ hệ thống (LSE)
    Lupus ban đỏ hệ thống có thể ảnh hưởng đến nhiều phần của cơ thể bao gồm cả khớp. Khảo sát cho thấy có khoảng 4% nguy cơ nhiễm Hoại tử mô mạch.

    Chẩn đoán
    X-quang: thường là thử nghiệm đầu tiên thực hiện khi AVN bị nghi ngờ. Nó có thể giúp phân biệt AVN từ các nguyên nhân khác gây ra đau xương, chẳng hạn như gãy c xương. Một khi chẩn đoán được thực hiện, và trong giai đoạn sau của AVN, tia X rất hữu ích trong việc giám sát quá trình điều trị.

    MRI đôi khi được sử dụng để chẩn đoán AVN bởi vì nó có thể phát hiện AVN ở giai đoạn sớm nhất, khi các triệu chứng vẫn chưa có mặt.

    Xét nghiệm xương cũng có thể được sử dụng để chẩn đoán AVN. Chúng hữu ích vì một lần quét có thể cho thấy tất cả các vùng trong cơ thể bị ảnh hưởng bởi AVN. Tuy nhiên, việc quét xương không phát hiện ra AVN ở giai đoạn sớm nhất.

    Chụp CT cung cấp một hình ảnh ba chiều của xương và có thể hữu ích trong việc xác định mức độ thiệt hại xương.

    Các thủ tục phẫu thuật, như sinh thiết xương , có thể chẩn đoán AVN nhưng không thường xuyên được thực hiện.
    Bạn đang xem tại thuocbackimtuan.com


    Theo AVN Charity

Chia sẻ trang này