Thuốc biệt dược bạn có biết???

Thảo luận trong 'THẢO LUẬN' bắt đầu bởi Jackie_Chan, 20/7/12.

Lượt xem: 1,946

  1. Thuốc biệt dược hay tên thương mại (specialties, brand names) là các loại thuốc đặc biệt, những loại thuốc ban đầu mới được phát minh và độc quyền sản xuất.


    Tên của biệt dược là do các nhà khoa học hay nhà sản xuất đặt cho và có thể không phụ thuộc gì vào tên hóa học của hoạt chất chính có trong thuốc đó.

    Thí dụ Viagra, loại biệt dược nổi tiếng mới được phát minh và đi vào sản xuất năm 1997 là thứ thuốc mà trong đó chỉ có chứa hoạt chất chính là Sildenafil citrat.

    Trong những năm cuối của thế kỷ 20, doanh thu của biệt dược có tác dụng điều trị chứng rối loạn cương dương (ED) ở nam giới này đã lên đến hàng tỷ USD. Và nếu như ai đó mắc căn bệnh này, lại muốn mua Viagra với giá rẻ thì phải “đợi thêm” hơn chục năm nữa, khi nó biến thành thuốc gốc như trên đã trình bày!

    Bắt chước các loại thuốc thang của y học dân tộc, ngày nay nhiều loại biệt dược không chỉ đơn thuần chứa một loại hoạt chất, mà thường được các nhà sản xuất nghiên cứu để phối chế thêm nhiều loại dược chất thuộc diện thuốc gốc với nhau để tạo ra một sản phẩm mới có hiệu quả điều trị đa năng hơn, đó cũng là những biệt dược.

    Chẳng hạn như khi bị sốt cao có kèm theo nhức đầu, sổ mũi thì các thầy thuốc có thể kê đơn cho ta 2 loại thuốc gốc với giá rẻ là paracetamol và thuốc nhỏ mũi naphazolin hay ephedrin, nhưng cũng có người khuyên nên dùng Decolgel hay Tiffy, vì chúng đang ở dạng biệt dược do trong đó đã hội đủ các loại dược chất tương đương.

    Khi ho nhiều, có đau và sốt, ta có thể dùng thuốc giảm đau hạ nhiệt và thuốc ho là codein hay terpin codein, nhưng nếu giản tiện hơn có thể dùng loại biệt dược mang tên Efferalgan codein (chú ý trẻ em dưới 5 tuổi không được dùng loại này).

    Xu hướng hiện nay của một số nhà sản xuất dược phẩm là phối chế nhiều loại thuốc gốc với nhau để tạo ra các biệt dược mới có tên gọi nhiều khi rất khác nhau.

    Sự phối chế này là kết quả của nhiều công trình nghiên cứu lâu dài nhằm tránh hiện tượng tương kỵ và tương tác thuốc khi vào cơ thể. Nếu chúng lại có tác dụng hiệp đồng làm tăng tác dụng dược lý của nhau thì càng tốt.

Chia sẻ trang này