U XƠ TỬ CUNG VÀ THAI

Thảo luận trong 'THẢO LUẬN' bắt đầu bởi datdang, 27/12/16.

Lượt xem: 352

  1. 1. Tỷ lệ sản phụ có nhân xơ tử cung là bao nhiêu?
    - Tỷ lệ phụ thuộc vào thời điểm đánh giá và kích thước khối u
    - Trong 12.708 sản phụ có 4% sản phụ có u xơ tử cung > 3 cm. (Am J Perinatol 1992)
    - Trong 15.579 sản phụ có 622 (3.9%) trường hợp bị u xơ tử cung.(Hum Reprod. 2003 Aug)
    2. Nhân xơ tử cung có phát triển kích thước trong thai kỳ hay không?
    - Lý thuyết: nhân xơ sẽ phát triển kích thước khi người phụ nữ có thai do tăng estrogen và progesterone.
    - Lâm sàng: siêu âm đáng giá trong suốt thai kỳ.
    + Đa số lớn lên, một số trường hợp nhân xơ nhỏ đi. Thể tích tăng trung bình là 12% và ít khi tăng quá 25%
    + Đa số phát triển ở 3 tháng đầu thai kỳ.
    + Nhân xơ có kích thước > 5 cm thì lớn nhanh.
    - Sau sanh 90% nhân xơ sẽ nhỏ lại.
    3. U xơ tử cung có gây triệu chứng trong thai kỳ hay không?
    - Lolis DE và cộng sự (2003): trong 622 trường hợp sản phụ có nhân xơ tử cung có 97,4% không có triệu chứng lâm sàng.
    - Khối nhân xơ có kích thước > 5 cm thường gây triệu chứng lâm sàng.
    - Triệu chứng thường gặp là đau bụng.
    - Thời điểm thường gặp là giai đoạn cuối của 3 tháng đầu thai kỳ và giai đoạn đầu của 3 tháng giữa thai kỳ.
    - Nguyên nhân là do mạch máu nuôi khối u bị tắc nghẽn hoặc khối u hoại tử
    4. Ảnh hưởng của u xơ lên thai kỳ
    4.1. Sẩy thai
    - Đa số là nhân xơ dưới niêm
    - Nguyên nhân thật sự chưa được biết rõ ràng, có 2 giả thuyết: (1) u xơ có thể cản trở sự làm tổ và phát triển bình thường của vòng tuần hoàn tử cung - nhau. Những u xơ lớn có thể đè ép vào nội mạc tử cung làm nội mạc bị thiểu sản hoặc hoại tử và dẫn đến tình trạng sẩy thai. (2) Sự lớn quá nhanh của u xơ có thể có hoại tử hay không dẫn đến sự co bóp của tử cung hoặc bánh nhau tiết ra các chất xúc tác làm bánh nhau bong tróc dẫn đến sẩy thai tự nhiên.
    4.2. Sanh non
    - Làm tăng nguy cơ: chuyển dạ sanh non OR 1.9, 95% CI 1.5-2.3 và sanh non OR 1.5, 95% CI 1.3-1.7 so với những tử cung không có u xơ.
    - Những tử cung có u xơ kích thước > 5 cm cũng dễ gây sanh non hơn những trường hợp khác.
    4.3. Nhau bong non
    U xơ tử cung dạng dưới niêm, u xơ tử cung tại vị trí nhau bám và u xơ tử cung ≥ 7 cm liên quan đến nguy cơ cao nhau bong non.
    4.4. Nhau tiền đạo
    - Làm tăng nguy cơ nhau tiền đạo
    - Nghiên cứu của Stout MJ và cộng sự cho thấy tỷ lệ là 1,4% so với 0,5%. Nghiên cứu của Qidwai GI và cộng sự thì có tỷ lệ nhau tiền đạo cao hơn 3,8% so với 2%.
    4.5. Thai chậm tăng trường trong tử cung
    Nghiên cứu của Klatsky PC và cộng sự (2008) OR 1.4, 95% CI 1.1-1.7 .
    4.6. Ngôi bất thường
    - U xơ tử cung to có thể làm biến dạng lòng tử cung dẫn đến ngôi bất thường. Nguy cơ ngôi bất thường ở những trường hợp có u xơ tăng so với tử cung không có u xơ OR 2.9, 95% CI 2.6-3.2 [13]. Một nghiên cứu kéo dài từ năm 1990 – 2007, với 72000 sản phụ đơn thai được tiến hành tại bang Washington, kết quả tỷ lệ ngôi mông tăng ở những trường hợp tử cung có u xơ OR 1.5, 95% CI 1.3-1.. Tử cung có nhiều u xơ, u xơ nằm ở dưới bánh nhau hoặc u xơ tử cung nằm ở đoạn dưới hoặc kích thước u xơ tử cung to là yếu tố thuận lợi dẫn đến ngôi bất thường.
    4.7. Chuyển dạ bất thường
    Về lý thuyết, u xơ tử cung dạng trong cơ có thể là giảm cường độ của cơn co tử cung hoặc làm gián đoạn cơn co tử cung. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng ở những trường hợp có u xơ tử cung thì tỷ lệ có bất thường trong chuyển dạ tăng.
    4.8. Mổ lấy thai
    - Tỷ lệ mổ lấy thai ở nhóm có u xơ tử cung cao hơn nhóm không có u xơ tử cung.
    - Nghiên cứu của Klatsky PC và cộng sự (2008) cho thấy tỷ lệ mổ lấy thai cao ở những tử cung có u xơ tử cung OR 3.7, 95% CI 3.5-3.9.
    - Nguyên nhân có thể là do ngôi bất thường, chuyển dạ bất thường, chuyển dạ ngưng tiến triển hoặc nhau bong non.
    4.9. Băng huyết sau sanh
    - Klatsky PC cộng sự (2008) cho thấy tỷ lệ bị băng huyết sau sanh ở tử cung có u xơ cao hơn ở những tử cung không có u xơ OR 1.8, 95% CI 1.4-2.2.
    - Băng huyết sau sanh thường xảy ra ở những trường hợp u xơ có kích thước > 3 cm hoặc vị trí bánh nhau bám trên u xơ hoặc mổ lấy thai.
    5. Chỉ định bóc u xơ trước khi có thai:
    Quyết định bóc nhân xơ tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi của bệnh nhân, tiền sử mang thai, triệu chứng lâm sàng, số lượng, vị trí và kích thước khối u.
    6. Theo dõi sanh ngã âm đạo hay mổ lấy thai
    Đa số những sản phụ có nhân xơ tử cung có thể sanh ngã âm đạo thành công. Chính vì thế chỉ định mổ lấy thai nên là chỉ định sản khoa như ngôi bất thường, chuyển dạ ngưng tiến triển . .
    7. Chỉ định bóc u xơ trong khi mang thai:
    - Vì có nhiều nguy cơ trong và sau khi phẫu thuật bóc u xơ tử cung khi có thai như xuất huyết nhiều đôi khi dẫn đến cắt tử cung, vỡ tử cung, sẩy thai hoặc sanh non. Chính vì thế nên tránh phẫu thuật bóc u xơ đối với những u xơ tử cung dạng trong cơ
    8. Bóc u xơ trong khi mổ lấy thai hay không?
    - Khi tử cung có thai lượng máu dồn về tử cung rất lớn, bóc nhân xơ đặc biệt là những nhân xơ trong cơ tử cung có thể gây chảy máu nhiều. Một nghiên cứu 9 ca bóc nhân xơ sau mổ lấy thai thì có 3 ca xuất huyết nhiều phải cắt tử cung. Một nghiên cứu khác báo cáo 25 ca được bóc nhân xơ thì có 5 ca cần truyền máu mặc dù không cắt tử cung.

Chia sẻ trang này